Lịch sử chiến lược và quản trị chiến lược doanh nghiệp

Lịch sử khoa học quản trị chiến lược doanh nghiệp được xây dựng và phát triển mạnh mẽ tại phương Tây cả trên phương diện quân sự và quản trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, khái niệm “chiến lược” bắt nguồn từ quân sự và lần đầu được đề cập chính thống trong quân sự phương Đông trong tác phẩm kinh điển Binh Pháp Tôn Tử những năm 512 trước Công Nguyên. Quan điểm chiến lược là “một nghệ thuật chỉ huy quân sự”, gồm nhiều kỹ năng như “chiến thuật”, công thủ, bao vây, hậu cần logistics … được sử dụng từ thế kỷ thứ 6 và được chuyển sang ngôn ngữ phương Tây hiện hành vào thế kỷ thứ 18. Carl von Clausewitz (1792 – 1831), cha đẻ của khoa học nghiên cứu chiến lược phương Tây hiện đại với tác phẩm Bàn Về Chiến Tranh (tiếng Đức: Vom Kriege; tiếng Anh: On War), định nghĩa chiến lược quân sự là “triển khai chiến trận để giành thắng lợi và kết thúc chiến tranh”. Hai tác phẩm kinh điển Luận Về Chiến Thuật Chiến Tranh (Treatise on Grand Military Operations) năm 1805 và Tóm Lược Về Nghệ Thuật Chiến Tranh (The Art of War) năm 1838 của Antoine Henri Jomini (1779 -1869) đưa ra các quan điểm quan trọng và cơ bản về chiến tranh trong. Lực lượng chiến tranh phải ở mức tối thiểu để giảm thương vong; chính sách chiến tranh là quan hệ tổng hợp giữa ngoại giao và chiến tranh. “Bản chất chiến tranh không phải là một khoa học mà là một nghệ thuật – War in its ensemble is NOT a science, but an art”, quan điểm này xuyên suốt trong tác phẩm của ông. Chiến thuật mà ông đưa ra là nghệ thuật chỉ đạo chiến đấu, đặt lợi thế vào những thời điểm quyết định. Một đóng góp quan trọng khác của Jomini là phân biệt các vùng chiến sự và các vùng hoạt động, các kênh truyền thông và hậu cần.

Từ các nghiên cứu quân sự, khái niệm chiến lược được hình thành, phát triển và áp dụng trong khoa học quản trị doanh nghiệp hiện đại từ thế kỷ thứ 19. Mặc dù có nguồn gốc từ chiến lược quân sự, nhưng chiến lược doanh nghiệp có sự khác biệt đáng kể. Về bản chất, chiến lược quân sự nhằm tiêu diệt kẻ địch; đây là cuộc chiến thắng – bại. Trong khi đó, chiến lược doanh nghiệp có thể theo đuổi các mục tiêu khác nhau, mặc dù luôn gắn liền với các mục tiêu tài chính. Để đạt được các mục tiêu này, không nhất thiết phải có doanh nghiệp hay đối thủ nào bị phá sản, giải thể vì kinh doanh là một quá trình liên tục tạo ra giá trị. Các doanh nghiệp gặp khó khăn ở lĩnh vực hay mặt này luôn có thể thành công ở một lĩnh vực khác hoặc bằng một phương pháp tiếp cận mới. Do đó, chiến lược doanh nghiệp không phải là thế giới của sự hủy diệt mà là thế giới của sự sáng tạo.

Lịch sử quản trị chiến lược doanh nghiệp được phân làm hai thời kỳ chính. Thời kỳ đầu của lịch sử chiến lược doanh nghiệp từ những năm 1960, mang nặng ảnh hưởng của “Bàn Tay Vô Hình” của Adam Smith và “Bàn Tay Hữu Hình” của Alfred Chandler.

  • “Bàn Tay Vô Hình” của Adam Smith nằm trong kiệt tác Sự Phồn Thịnh Của Các Quốc Gia (The Wealth of Nations) năm 1776. Qua nghiên cứu các mô hình kinh tế, khái niệm “Bàn Tay Vô Hình” được Adam Smith phân tích gắn liền với hoạt động sản xuất, huy động và sử dụng vốn tài chính nhằm thúc đẩy phát triển nền kinh tế nội địa của mỗi quốc gia. Thuyết “Bàn tay vô hình” là lý luận đầu tiên đề cập đến cơ chế kinh tế thị trường và sự vận hành của nền kinh tế. Theo Adam Smith, chính quyền mỗi quốc gia không cần can thiệp vào cá nhân và doanh nghiệp, cứ để nó tự do hoạt động kinh doanh; ông kết luận: “Sự giàu có của mỗi quốc gia đạt được không phải do những quy định chặt chẽ của nhà nước, mà do bởi tự do kinh doanh”; “một chính quyền tốt nhất là loại chính quyền cai trị ít nhất” – tư tưởng này đã chế ngự nền kinh tế thế giới trong suốt thể kỉ XIX. Đây cũng là lý do giải thích tại sao Adam Smith được coi là cha đẻ của kinh tế học và quản trị học. Mặc dù khái niệm chiến lược không được ông đề cập đến, nhưng tư tưởng của ông là tiền đề phát triển của ngành chiến lược thích nghi theo cơ chế thị trường, được phát triển mạnh mẽ vào cuối thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20.
  • Cuối thế kỷ thứ 19, trong một số ngành công nghiệp có mô hình doanh nghiệp đa bộ phần (M-form), “Bàn tay vô hình” của Adam Smith không còn phù hợp và dần bị thay thế bởi “Bàn tay hữu hình” của các nhà quản lý của Chandler. Thuật ngữ “Bàn tay hữu hình” (The Visible Hand) xuất hiện trong tác phẩm Bàn Tay Hữu Hình – Cuộc Cách Mạng Quản Lý Trong Các Doanh Nghiệp Hoa Kỳ (The Visible Hand: The Managerial Revolution in American Business), do Chandler biên soạn và công bố năm 1977. Các luận điểm trong tác phẩm hoàn toàn trái ngược với những lý luận trước đó, cụ thể là thuyết “Bàn tay vô hình” của Adam Smith. Mô hình cạnh tranh hoàn hảo, theo ông, không cho phép hiểu rõ cấu trúc và vận hành của các doanh nghiệp hiện đại; vì đó là mô hình cấu trúc thị trường trong đó: (1) cả người bán và kẻ mua đều không đủ khả năng để tác động đáng kể tới thị trường; (2) hai bên đều nắm rõ các cơ hội giao dịch, hiểu được phương pháp xác định nguồn cung và cầu của sản phẩm…; (3) và sản phẩm khác biệt không tồn tại. Nói cách khác, không tồn tại sự cạnh tranh; doanh nghiệp không đổi mới, không cập nhật công nghệ, phương pháp vận hành và sản xuất hiệu quả nhất; và họ cũng không nhất thiết phải giảm giá.

Như vậy, có thể thấy, trong giai đoạn trước năm 1960 của lịch sử chiến lược doanh nghiệp, khái niệm “chiến lược” chủ yếu được hiểu gắn liền với chiến tranh và các hoạt động chính trị. Trong những năm 1950 – 1960, nhiều doanh nghiệp đã thiết lập các bộ phận chuyên trách lập và thực thi kế hoạch chiến lược. Các nghiên cứu về chiến lược doanh nghiệp chính thức xuất hiện vào thời gian này, lần đầu trong tác phẩm của Ansoff và Chandler, trên cơ sở phát triển các nghiên cứu Peter Drucker, Philip Selnick và Bruce Henderson.

Trong số các nhà nghiên cứu thời kỳ này, phải kể đến Peter Drucker – một nhà lý luận quản lý đa ngành và là tác giả của nhiều tác phẩm quản lý nổi tiếng. Trong tác phẩm nổi tiếng Thực Hành Quản Trị (The Practice of Management) năm 1954, ông đặt ra các câu hỏi chiến lược: trách nhiệm đầu tiên của những nhà lãnh đạo là phải tự đặt ra câu hỏi “hoạt động kinh doanh của chúng ta là gì?” và phải đảm bảo chắc chắn rằng câu hỏi này được nghiên cứu cẩn thận và giải đáp đúng đắn”; và theo ông, câu trả lời cuối cùng là do khách hàng đánh giá. Ông nhấn mạnh 8 mục tiêu cần thiết lập trong doanh nghiệp là: vị thế trên thị trường, đổi mới, năng suất, các nguồn lực tài chính và vật chất, hiệu quả và thái độ của người lao động, khả năng sinh lời, hiệu quả và năng lực phát triển của nhà quản lý, và trách nhiệm xã hội. Đóng góp quan trọng của Peter Drucker thể hiện ở sự nhấn mạnh tầm quan trọng của mục tiêu và hoạt động quản lý trong doanh nghiệp.

Tiếp theo là giáo sư luật học và xã hội học tại Đại học California, Philip Selznick. Ông là người đặt nền tảng cho lý thuyết tổ chức, pháp luật xã hội và quản lý hành chính công. Đồng thời, ông cũng là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “năng lực khác biệt” (distinctive competence) trong tác phẩm nổi tiếng Phong Cách Lãnh Đạo Trong Quản Lý (Leadership in Administration) năm 1957, ông đã phân tích cụ thể doanh nghiệp Navy làm thế nào để khác biệt hóa dịch vụ của mình so với các đối thủ khác. Ông cũng đặt nền tảng cho tư tưởng thích nghi các yếu tố nội tại của doanh nghiệp với bối cảnh môi trường bên ngoài; được Kenneth R. Andrews phát triển sau đó thành mô hình SWOT.

Nhìn chung, hai nguyên tắc cơ bản của ngành chiến lược doanh nghiệp trong thời kỳ đầu là: (1) để đảm bảo phát triển bền vững, doanh nghiệp phải thích ứng với môi trường mà mình hoạt động; và (2) để thành công, doanh nghiệp phải có được lợi thế cạnh tranh và bảo vệ vững chắc lợi thế đó. Nhiều mô hình chiến lược đã được phát triển trong thời kỳ này như ma trận SWOT, BCG, ma trận sản phẩm – thị trường, McKinsey … và kết thúc bởi những mô hình phân tích chiến lược đỉnh cao của Michael E. Porter (1980, 1985), được đánh giá là bao trùm tất cả các mô hình chiến lược trước đó.

Thời kỳ thứ hai trong lịch sử quản trị chiến lược từ đầu những năm 1980, Birger Wernerfelt chính thức mở ra bằng nghiên cứu mang tính khai phá của ông về Quan điểm dựa trên nguồn lực của doanh nghiệp (A Resource-based View of the Firm) năm 1984. Đây là một trong những nghiên cứu được trích dẫn nhiều nhất trong lịch sử khoa học xã hội tính đến ngày nay. Theo quan điểm các doanh nghiệp không đồng nhất, ông phân tích nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh bền vững và đề xuất rằng: chiến lược cạnh tranh tối ưu nhất là dựa trên các nguồn lực của chính doanh nghiệp. Ông cũng chỉ ra các nguồn lực hiện tại được sử dụng và phát triển thành mới như thế nào trong doanh nghiệp.

Quan điểm tiếp cận nguồn lực của ông liên tục được phát triển thành các học thuyết về nguồn lực với ba nhánh chính: nguồn lực, tri thức và năng lực động; lý thuyết siêu cạnh tranh; chiến lược bẻ gãy; chiến đại dương xanh …. Tư tưởng bao trùm thời kỳ này là doanh nghiệp, trên cơ sở các nguồn lực sẵn có và tự phát triển của mình, có thể xây dựng chiến lược (1) điều khiển môi trường kinh doanh hiện tại theo hướng có lợi cho mình và/hoặc (2) tự tạo ra môi trường kinh doanh – sân chơi cho riêng mình trên cơ sở thay đổi các luật lệ sản xuất kinh doanh hiện tại.

Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới hiện nay, bất luận nền kinh tế đó có quy mô và trình độ phát triển như thế nào. Xu thế này mở ra cơ hội hợp tác và thúc đẩy phát triển kinh tế nhưng cũng gắn liền với thách thức về cạnh tranh, về thể chế, chính sách (Balassa, 1961). Gắn liền với sự phát triển của thương mại quốc tế, chính sách thương mại quốc tế là những biện pháp mà Chính phủ một quốc gia áp dụng nhằm điều chỉnh hoạt động thương mại của quốc gia mình với quốc gia khác thông qua công cụ thuế quan và phi thuế quan.

Gắn liền với sự phát triển của thương mại quốc tế, chính sách thương mại quốc tế là những biện pháp mà chính phủ một quốc gia thông qua nhằm điều chỉnh hoạt động thương mại giữa quốc gia mình với quốc gia khác, thường bao gồm các quy định về thương mại, chính sách về xuất khẩu, hệ thống thuế và các chính sách hỗ trợ khác. Để thực hiện các chính sách này, Nhà nước sử dụng các công cụ thuế quan và phi thuế quan để điều tiết. Tuy nhiên, trong bối cảnh các quốc gia đang tham gia ngày càng mạnh mẽ vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, chính sách thương mại quốc tế không đơn thuần chỉ là ý chí chủ quan của mỗi quốc gia. Các chính sách này khi đó cần được điều chỉnh và hoàn thiện sao cho vừa phù hợp với tiềm lực kinh tế đất nước, lại vừa tuân thủ những nguyên tắc và quy định đã kí kết trong các hiệp định với các quốc gia, các thể chế khu vực và thế giới (Krugman và các cộng sự, 2014).

Hiện nay, các doanh nghiệp đã và đang có xu hướng áp dụng phát triển chiến lược phân tích và hoạch định chiến lược nhằm phục vụ cho sự phát triển của mình. Điều này góp phần cho phép doanh nghiệp thích nghi với các biến động không ngừng và sự cạnh tranh quyết liệt từ môi trường kinh tế. Nắm bắt và áp dụng đúng đắn, kịp thời các quan điểm quản trị hiện đại vào hoạt động tổ chức kinh doanh là việc làm khôn ngoan và thiết yếu với bất kì doanh nghiệp nào.

Phân tích, hoạch định là tổng hợp các bước trong quá trình xác định mục tiêu của tổ chức và phương thức tốt nhất để đạt được những mục tiêu đó. Theo một cách hiểu khác, hoạch định là quá trình trù liệu những cách thức hành động trong tương lai để nâng cao khả năng ứng phó với những thay đổi tiêu cực của các tổ chức nói chung và các doanh nghiệp nói riêng. Nguồn tài nguyên hạn chế và sự biến động thường xuyên của môi trường doanh nghiệp là một trong hai nguyên nhân chính đòi hỏi các nhà quản trị phải tiến hành công việc phân tích, hoạch định chính sách. Hoạt động phân tích, hoạch định chính sách có 3 mục tiêu cơ bản, bao gồm: (i) Nghiên cứu và quản lý sự thay đổi môi trường; (ii) Vạch ra những con đường phát triển gắn bó và (iii) Cải thiện hiệu năng của doanh nghiệp. Kết quả của quá trình này cho phép các doanh nghiệp đạt được một số lợi ích như: nâng cao khả năng phối hợp nỗ lực của các thành viên trong doanh nghiệp; hạn chế sự chồng chéo và những hoạt động lãng phí, đồng thời xác định rõ ràng phương hướng, tiết kiệm tài nguyên khi đi chệch quỹ đạo,…

Nguồn: Phan Thanh Tú (2019), Quản trị Chiến lược Doanh Nghiệp, NXB Công Thương, trang 1 – 5.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *